Nuôi tôm ở Việt Nam- đặc biệt là ơ ĐB sông Cửu Long

Cá và tôm được nuôi từ lâu tại Việt Nam, đặc biệt là châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long và vùng duyên hải. Tuy nhiên phương pháp nuôi còn thô sơ cho mãi đến cuối thế kỷ 20, khi nhu cầu cá và tôm cho nhà hàng, thị trường, nhà máy chế biến thủy sản... tăng cao và có sự phát triển mạnh mẽ về diện tích diễn ra nhanh chưa từng thấy trong lịch sử.

Điều này cho thấy trong bảng số liệu diện tích nuôi tôm tại Việt Nam như thấy trong các bảng bên dưới.

  • vuong_tomvuong_tom
Mặc dù có nhiều giống tôm bản địa sẵn có từ lâu ở Việt Nam như  tôm thẻ, tôm chì, tôm sắt, tôm nghệ, tôm càng ... và đã có một số giống được nuôi, nhưng hai loài tôm được nuôi nhiều nhất là tôm sú (Penaeus Monodon) và từ năm 2013, tôm thẻ chân trắng (dù đã được giới thiệu vào VN từ lâu, nhưng đến 2013 thẻ chân trắng mới có sản lượng và giá trị nuôi cao hơn tôm sú). Lịch sử nuôi các loài tôm này cũng tương đối ngắn.

Nuôi tôm ở Việt Nam 
Số liệu thống kê của Bộ Thủy sản Việt Nam cho thấy phần lớn diện tích nuôi tôm (ha) và sản lượng tôm (tấn) xuất phát từ Nam bộ Việt Nam, đặc biệt tập trung tại một số tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long. Dần sau này nuôi tôm phát triển rộng ra các tỉnh duyên hải khác của Việt Nam từ Cà Mau đến Vịnh Bắc bộ. Mặc dù vậy điều này chưa thay đổi về sản lượng theo vùng. Nam bộ vẫn là nơi nuôi tôm nhiều nhất Việt Nam như thấy ở bảng 1 (tính bằng ha) và bảng 2 (đơn vị là tấn).

Khu vực 1990 1995 2000 2001 2002 2003
Bắc Việt Nam 1,985 8,150 9,136 21,489 25,179 41,372
Trung 3.521 8,200 16,613 28,659 26,237 28,803
Nam 88,038 196,307 209,748 422,279 427,270 476,582
Tổng (ha) 93,544 216,957 235,497 472,427 478,785 546,757

                        Bảng 1: Diện tích nuôi tôm tại Việt Nam

Khu vực 1986 1990 1995 1999 2000 2001 2002
Bắc 127 1,114 1,897 2,693 2,114 4,382 9,215
Trung 495 757 5,023 7,344 18,866 27,279 27,277
Nam 14,983 30,875 48,691 47,959 82,865 131,052 157,481
Tổng 15,605 32,746 55,593 58,996 103,845 162,713 193,973

         Bảng 2: Sản lượng tôm của Việt Nam (Nguồn: Bộ Thủy sản Việt Nam)

 

Các tỉnh có diện tích nuôi tôm nhiều nhất là các tỉnh cực Nam của Việt Nam, gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bến Tre.

Tổng diện tích nuôi của Nam Bộ là 476,528ha (2003), trong đó các tỉnh nhiều nhất là:

Cà Mau: 224.000ha
Bạc Liêu 109.258ha
Sóc Trăng 51.044ha

  • mekong_quantitymekong_quantity

Các hình thức nuôi tôm

Tại Việt Nam có thể thấy có các hình thức nuôi tôm như sau đây. Các hình thức nuôi này chủ yếu dựa trên một báo cáo của các nhà nghiên cứu tại Khoa Thủy sản trường Đại học Cần Thơ.

1. Nuôi quảng canh
Hình thức nuôi quảng canh khá phổ biến và thích hợp với đại bộ phận nông dân với vốn, kiến thức hạn chế. Các đặc điểm của nuôi quảng canh như sau:
Diện tích đầm tôm: 3-5 ha
Tỉ lệ rừng ngập mặn và diện tích đầm tôm: 50-70%/ 50-30 %
Con giống: tự nhiên có thả bổ sung
Mật độ: 5-7 con/ mét vuông (đợt đầu)/ 1-1.5 con/ mét vuông (đợt 2)
Thòi gian nuôi: 2 chu kỳ mỗi năm, từ tháng 1-5/ tháng 6-12, hoặc thả con liên tục
Không dùng thức ăn viên
Không xử lý hồ bằng vôi CaCO2
Thời gian vét đáy ao nuôi: tháng 5-6
Năng suất: 285 kg/ha/năm

2. Quảng canh cải tiến
Diện tích đầm nuôi: 1-3 ha
Diện tích nước: 60-70 %
Con giống: tự nhiên có thả bổ sung
Mật độ thả: 6-6 con/ mét vuông (lần đầu)/ kỳ nuôi sau: 1-2 con/mét vuông
Thời gian nuôi: Hai chu trình nuôi từ tháng 1-5/6-12
Có sử dụng một ít thức ăn viên hay tự chế
Ao có xử lý vôi và bón phân
Thời gian vét bùn đáy ao: tháng 5-6
Sản lượng: 195 kg/ha/chu kỳ nuôi

3. Bán thâm canh và thâm canh
Diện tích ao nuôi: 1-4 ha
Diện tích nước: 70-75%
Con giống: thả con giống đẻ nhân tạo
Mật độ: 15-45 pc/ mét vuông
Thời gian nuôi: Hai đợt/năm từ tháng 1-5/ 6-11
100% thức ăn viên
Xử lý ao bằng vôi, có bón phân
Có dùng hóa chất và enzymes
Năng suất: 1 - 3 tấn (bán thâm canh) và 5-7 tấn (thâm canh)

4. Phương pháp kết hợp rừng-tôm-cua
Dựa vào kết quả điều tra của Trường Đại học Cần Thơ tại 4 tỉnh duyên hải châu thổ sông Cửu Long, hình thức này khá phổ biến chiếm 38,9% so các mô hình khác. Đặc điểm như sau:
Diện tích nuôi (có rừng ngập mặn bên trong): 3-5 ha
Mặt nước kênh bao quanh : 25-30%
Tôm giống từ trại giống nhân tạo, cua và cá tự nhiên
Mật độ tôm : 12 con/mét vuông (lần 1), 1,2-5 con (lần 2)
Mật độ cua: 0.1-0.2 con/ mét vuông
Thời gian nuôi: Một vụ / năm (tháng Bảy-tháng Hai)
Không dùng thức ăn viên
Không bón vôi hay phân
Năng suất: 580 kg/năm (tôm, cua, cá)

5. Phương pháp lúa tôm
Mùa mưa nông dân trồng lúa, nhưng đến mùa khô, nước mặn thì người ta nuôi tôm. Đặc điểm của lối nuôi này như sau:
Diện tích nuôi : 1-2 ha
Mặt nước kênh bao quanh: 25-30 %
Độ sâu mặt nước ruộng: 30-50 cm
Con giống từ trại giống nhân tạo
Mật độ tôm: 2-5 con/ mét vuông
Thời gian nuôi: tháng Giêng-tháng Năm
Dùng thức ăn viên hay thức ăn tự ch
Bón vôi và phân
Năng suất: 300-450 kg/năm

Các đặc điểm nuôi tôm như trên được ghi nhận tại đồng bằng sông Cửu Long. Cách 1, 2 và 3 là phổ biến tại nhiều nước có nuôi tôm sú. Loại 5 (lúa tôm) áp dụng ở những nơi mà mỗi năm có thể trồng lúa vào mùa mưa khi có đủ nước ngọt, và mùa nắng có nước mặn (trên bản đồ độ mặn của ĐB sông Cửu Long là vùng tiếp giáp mặn ngọt có màu vàng và xanh lân cận màu vàng)

Loại 4 (rừng ngập mặn, tôm, và cua, cá): khác với loại trên mô hình này nằm ở vùng ven biển có thời gian nước mặn hơn 6 tháng đến quanh năm (vùng màu hồng). Việc trồng lúa nơi này không thích hợp.
 
  • mekong_pondmekong_pond

Mặc dù chúng tôi giới thiệu năm phương pháp nuôi tôm, nhưng về mặt thực tiễn, chủ yếu vẫn chỉ có ba hình thức phổ biến, đó là quảng canh, bán thâm canh và thâm canh.

Bạc Liêu là tỉnh có diện tích nuôi tôm lớn thứ hai ở Việt Nam- có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho nuôi tôm. Mặc dù số liệu thống kê chính xác khó có thể có được, nhưng người ta đoán rằng diện tích này có thể đến 120.000 ha hay hơn nữa. Khoảng 20.000 ha trong số này là vuông nuôi thâm canh/ bán thâm canh, phần còn lại là quảng canh và năng suất tương đối thấp.